Trung tâm đầu tư phát triển cụm công nghiệp tỉnh ninh bình

website liên kết

  • Sở công thương
  • Sở xây dựng
  • Sở tài nguyên
  • Sở kế hoạch và đầu tư

bản đồ hành chính

  • Bản đồ hành chính

thư viện video

tin tức

Quản lý và xử lý nước thải công nghiệp – Kinh nghiệm trên thế giới, gợi ý cho Việt Nam

Quản lý và xử lý nước thải công nghiệp – Kinh nghiệm trên thế giới, gợi ý cho Việt Nam

Nước là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất hành tinh, là điều kiện tiên quyết để duy trì sự sống, sự phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dân số tăng nhanh, một lượng nước thải công nghiệp chưa được qua xử lý đã xả vào sông, hồ và khu vực ven biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và đe dọa cuộc sống của con người. Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp. Tại các cơ sở công nghiệp, có hai loại nước thải: nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất, trong đó nước thải sản xuất là loại nước thải có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, hơn 70% chất thải công nghiệp chưa qua xử lý được xả vào nguồn nước và gây ô nhiễm nguồn nước cấp[1]. Nước thải công nghiệp có thể chứa một loạt các chất gây ô nhiễm. Trong nhiều trường hợp, nước thải từ ngành công nghiệp không chỉ xả trực tiếp ra sông, hồ, khu vực ven biển mà nó còn thấm xuống lòng đất và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Ở các nước đang phát triển, điều này thường khó để phát hiện khi việc quan trắc, giám sát thường khá tốn kém. Ngay cả khi được phát hiện, việc xử lý có thể cũng vô cùng khó khăn. Bài viết sẽ giới thiệu cách thức quản lý và xử lý nước thải công nghiệp ở một số nước phát triển trên thế giới, từ đó đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong việcquản lý và xử lý nước thải công nghiệp.

I.              Kinh  nghiệm của một số nước trên thế giới

1.             Các nước châu Âu

Tài nguyên nước là lĩnh vực được quy định toàn diện nhất trong luật môi trường châu Âu. Các chỉ thị của châu Âu về tài nguyên nước có ảnh hưởng đến việc thay đổi một cách đáng kể các đạo luật ở những nước có luật môi trường tiến bộ.

Ngay từ năm 1975, Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn về nước an toàn ở các sông, hồ. Năm 1980, EU tiếp tục đưa ra các chỉ tiêu chất lượng, bắt buộc đối với nước uống, nước tắm… Đây là các chỉ tiêu nền tảng để thực hiện các biện pháp kiểm soát nước thải công nghiệp, nhất là nước thải có chứa các chất nguy hại. Ngoài các biện pháp kỹ thuật, EU cũng áp dụng các công cụ kinh tế như thu phí nước thải, gắn việc thực hiện trách nhiệm môi trường với giấy phép thương mại.

Năm 1996, EU ban hành chỉ thị về phòng, chống và kiểm soát ô nhiễm tích hợp (IPPC), trong đó đưa ra các quy định nhằm giải quyết ô nhiễm từ các cơ sở công nghiệp lớn. IPPC được sửa đổi, bổ sung vào năm 2007, 2008.

Năm 2010, EU ban hành Luật về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm (IED), trong đó xác định rõ nghĩa vụ của khoảng 50.000 cơ sở công nghiệp lớn trong khu vực trong việc phòng, ngừa, giảm thiểu ô nhiễm nước. IED cũng yêu cầu các cơ sở này phải hoạt động theo đúng giấy phép, phù hợp với các nguyên tắc và quy định của IED, phải đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường như giá trị giới hạn phát khí thải, nước thải, khả năng phục hồi môi trường khi nhà máy đóng cửa… EU cũng yêu cầu các nước thành viên phải duy trì hoạt động thanh tra môi trường, mỗi cơ sở phải được thanh tra ít nhất 01 lần trong 03 năm.

Cũng trong năm 2010, Nghị viện châu Âu (EP) và Ủy ban hòa giải của hội đồng châu Âu đã đi đến thỏa thuận cuối cùng về Chỉ thị khung cho hành động Chung trong lĩnh vực tài nguyên nước (WFD). Để có được thỏa thuận này, EU phải mất 12 năm để thiết lập các chính sách, khởi đầu là Hội thảo các bộ trưởng về chính sách nước ở Frankfurt năm 1988. Rõ ràng, để đạt được thành công trong xử lý nước thải công nghiệp, các nước châu Âu đã xây dựng những quy định rõ ràng về trách nhiệm quản lý nước thải, bảo đảm hệ thống kiểm soát, giám sát xả thải vào môi trường, buộc các ngành công nghiệp thực hiện các biện pháp xử lý nước thải phù hợp với quy định, tạo động lực tài chính và kinh tế giúp ngành công nghiệp đầu tư vào các giải pháp công nghệ nhằm giảm chi phí nước thải.

2.             Mỹ

Là quốc gia có nền công nghiệp phát triển, thường xuyên phải đối mặt với tình trạng ô nhiêm, Mỹ đã ban hành nhiều đạo luật, chính sách liên quan đến môi trường ở cả cấp liên bang và cấp tiểu bang. Đây là hệ thống pháp lý phức tạp buộc các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài phải thực hiện.

Trong vấn đề xử lý nước thải, Mỹ xây dựng Luật về chất lượng nước và công nghệ dựa trên giới hạn giấy phép (NPDES), cho phép thiết lập các chương trình giới hạn thải và đưa ra những điều kiện hạn chế cụ thể đối với từng nguồn thải công nghiệp. Luật cũng quy định về việc thực hiện Chương trình kiểm soát xả thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp vào hệ thống cống thoát nước của thành phố…

Đạo luật Nước sạch (CWA) ban hành năm 1948, sửa đổi năm 1972 cũng quy định rõ việc điều tiết xả thải ô nhiễm vào vùng biển của Mỹ và quy định tiêu chuẩn chất lượng nước mặt. Theo quy định của Luật, cơ quan Bảo vệ môi sinh Mỹ đã triển khai đã triển khai chương trình kiểm soát ô nhiễm môi trường như thiết lập các tiêu chuẩn nước thải công nghiệp.

3.             Hàn Quốc

Cùng với việc chú trọng vào phát triển kinh tế, Chính phủ Hàn Quốc đã có những thay đổi và điều chỉnh kịp thời về mục tiêu và chiến lược dài hạn, ưu tiên phát triển bền vững.

Trong hoạt động xử lý nước thải công nghiệp, Hàn Quốc thiết lập tiêu chuẩn nước thải kiểm soát nồng độ chất gây ô nhiễm có trong nước thải công nghiệp. Khi các doanh nghiệp Hàn Quốc tiến hành xử lý nước thải công nghiệp, họ bắt buộc phải có giấy phép, đồng thời phải báo cáo với cơ quan quản lý môi trường trước khi xả thải. Các chất độc hại không được phép xả thải tại các khu vực nhạy cảm, đã được chỉ định cụ thể. Hàn Quốc cũng thiết lập các đơn vị giám sát việc tuân thủ quy trình và tiêu chuẩn được phép xử lý nước thải, cùng với đó là áp dụng mức thu phí nước thải cơ bản và vượt định mức (nếu lượng nước thải công nghiệp vượt quá tiêu chuẩn được phép, nó sẽ được áp dụng mức thu phí khác cao hơn).

Tại Hàn Quốc, nguồn kinh phí xây dựng các nhà máy được lấy từ nguồn thu phí nước thải công nghiệp từ các doanh nghiệp và một phần từ ngân khố quốc gia.

II.            Gợi ý cho Việt Nam

1.             Thực trạng quản lý, xử lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam

Theo thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và môi trường), tính đến tháng 5/2016, cả nước có 313 khu công nghiệp được thành lập, trong đó mới chỉ có 212 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 75% với 102 hệ thống đã được lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động theo quy định; 24 KCN đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; 615 cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có khoảng hơn 5% đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Khác với số liệu thống kê, trên thực tế, nhiều khu công nghiệp đã có trạm xử lý nước thải nhưng chưa hoạt động thường xuyên, nước thải sau xử lý chưa đạt quy chuẩn Việt Nam. Tại nhiều khu công nghiệp như Trà Nóc 1, 2 (Cần Thơ), Thụy Vân (Phú Thọ) … vẫn tồn tại tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, các khu công nghiệp chưa xây dựng và vận hành trạm xử lý nước thải còn gây ô nhiễm môi trường lớn hơn như khu công nghiệp Cầu Nghìn (Thái Bình), khu công nghiệp Hòa Bình (Kon Tum) đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng chưa có hệ thống thu gom nước thải nên không thể vận hành. Đối với cơ sở sản xuất nằm ngoài khu công nghiệp, các công trình hạ tầng về quản lý nước thải và công tác kiểm soát ô nhiễm còn gặp khó khăn hơn. Những sự cố xả thải của các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng phải kể đến xả thải của công ty Vedan (Đồng Nai) gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Thị Vải, Công ty Tung Kuang (Hải Dương) xả thải ra sông Ghẽ… đặc biệt nghiêm trọng là sự cố Formosa (Hà Tĩnh) xả thải ra biển gây hiện tượng cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế.

Có thể nói, việc quản lý và xử lý nước thải ở các khu công nghiệp ở nước ta còn lỏng lẻo và chưa được quan tâm. Hoạt động của hệ thống xử lý nước thải tập trung tại một số KCN không hiệu quả do chủ đầu tư không tính đến tiến độ thu hút đầu tư, dẫn đến lượng nước thải thu gom quá ít, không đủ để vận hành thường xuỵên hệ thống xử lý nước thải. Bên cạnh đó, một số KCN không vận hành hệ thống xử lý nước thải do các cơ sở không thực hiện việc đấu nối. Hầu hết các KCN chưa lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014.

2.             Một số biện pháp nhằm cải thiện việc xử lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam

·                     Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

-                       Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cần tập trung đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng và chủ đầu tư các khu, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp về bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm; Theo dõi, thu thập thông tin thường xuyên; Phát triển mạng lưới cộng tác viên, nhân dân phát hiện kịp thời các hành vi sai phạm; Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về quản lý‎ ô nhiễm nước thải công nghiệp, khắc phục những chồng chéo và những khoảng trống.

-                      Xây dựng quy trình cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của lực lượng Cảnh sát Môi trường, sự phối hợp với các cơ quan khác như: Thanh tra, Chi cục Bảo vệ môi trường địa phương, các chế tài xử lý vi phạm.

-                      Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành các quy định của các doanh nghiệp.

-                      Xây dựng bộ chỉ số, chỉ tiêu ô nhiễm đặc thù cho các loại hình sản xuất, cho các khu, cụm công nghiệp để có được thông tin xác thực về sự tuân thủ quy định và các trường hợp vi phạm.

·                     Đối với các chủ đầu tư xây dựng, hạ tầng kỹ thuật của khu công nghiệp

-                      Chỉ tiếp nhận các dự án có công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ cao hoặc ít gây ô nhiễm

-                      Các doanh nghiệp định kỳ báo cáo kết quả quan trắc kiểm soát chất lượng nước thải, khí thải, tình hình quản lý chất thải cho cơ quan quản lý môi trường địa phương và gửi báo cáo cho đơn vị quản lý hạ tầng khu công nghiệp.

-                      Quản lý, giám sát chặt chẽ, phát hiện, ứng phó tại chỗ và thông báo kịp thời cho các đơn vị chức năng (Chi cục Bảo vệ môi trường, Cảnh sát Môi trường…)  phối hợp giải quyết. Về lâu dài, cần hướng tới việc thiết kế, xây dựng trạm xử lý nước thải tiên tiến, thân thiện với môi trường và bền vững.

Theo http://ttbd.gov.vn